Dưới đây là bài khóa dùng để ôn tập từ vựng và ngữ pháp:
🔊 李家的时候
🔊 我很早就希望能有机会来中国学习汉语,现在这个愿望终于实现了,心里有说不出的高兴。
🔊 从去年夏天起,我就忙着联系学校,办各种手续;可是,这一切都是瞒着我父母做的。我是独生女🔊 ,如果把这件事告诉父母,他们多半不会同意。因此,我只跟朋友和教我汉语的老师商量,把一切手续都办好以后才告诉他们。他们听了,果然不大愿意。爸爸说:“你现在的工作不是挺好吗?”妈妈说:“你不打算结婚啦?”
🔊 说实话,对于将来要做什么,我还没想好。可是现在,我就是想学汉语,想到中国——这个古老而又年轻的国家去看一看。我对父母说:“我已经长大了,就像小鸟一样,该自己飞了。我想要独立地生活,自由自在地去国外过一年,然后再考虑今后的打算。”父母知道我的性格,决定了的事情是不会改变的,而且他们也觉得我的想法是对的,就只好同意了。
🔊 妈妈要我到中国以后,每个星期都给她打一次电话。爸爸说:“最好常常跟我们视频聊天儿,告诉我们你在中国的一切。”我答应了。临走前,他们给我买了好多东西,拼命地往我的箱子里塞。
🔊 爸爸开车把我送到机场。离别时,他远远望着我不停地挥手,妈妈也在擦眼泪。看到父母恋恋不舍的样子,我的眼泪也一下子流了出来。
🔊 到中国以后,父母总是嘱咐我要注意身体,注意安全,努力地学习,愉快地生活。
🔊 为了表达我对他们的爱和想念,也为了让他们放心,我也常常跟他们说我在中国遇到的有趣的人和事,有时逗得他们哈哈大笑。
Pinyin
Lí jiā de shíhou
Wǒ hěn zǎo jiù xīwàng néng yǒu jīhuì lái Zhōngguó xuéxí Hànyǔ, xiànzài zhège yuànwàng zhōngyú shíxiàn le, xīn lǐ yǒu shuō bù chū de gāoxìng.
Cóng qùnián xiàtiān qǐ, wǒ jiù máng zhe liánxì xuéxiào, bàn gè zhǒng shǒuxù; kěshì, zhè yīqiè dōu shì mán zhe wǒ fùmǔ zuò de. Wǒ shì dúshēngnǚ, rúguǒ bǎ zhè jiàn shì gàosù fùmǔ, tāmen duōbàn bù huì tóngyì. Yīncǐ, wǒ zhǐ gēn péngyǒu hé jiào wǒ Hànyǔ de lǎoshī shāngliáng, bǎ yīqiè shǒuxù dōu bàn hǎo yǐhòu cái gàosù tāmen. Tāmen tīng le, guǒrán bù dà yuànyì. Bàba shuō: “Nǐ xiànzài de gōngzuò bù shì tǐng hǎo ma?” Māma shuō: “Nǐ bù dǎsuàn jiéhūn la?”
Shuō shíhuà, duìyú jiānglái yào zuò shénme, wǒ hái méi xiǎng hǎo. Kěshì xiànzài, wǒ jiù shì xiǎng xué Hànyǔ, xiǎng dào Zhōngguó——zhège gǔlǎo ér yòu niánqīng de guójiā qù kàn yī kàn. Wǒ duì fùmǔ shuō: “Wǒ yǐjīng zhǎng dà le, jiù xiàng xiǎo niǎo yīyàng, gāi zìjǐ fēi le. Wǒ xiǎng yào dúlì de shēnghuó, zìyóu zìzài de qù guówài guò yī nián, ránhòu zài kǎolǜ jīnhòu de dǎsuàn.” Fùmǔ zhīdào wǒ de xìnggé, juédìng le de shìqíng shì bù huì gǎibiàn de, érqiě tāmen yě juéde wǒ de xiǎngfǎ shì duì de, jiù zhǐhǎo tóngyì le.
Māmā yào wǒ dào Zhōngguó yǐhòu, měi gè xīngqí dōu gěi tā dǎ yī cì diànhuà. Bàba shuō: “Zuì hǎo chángcháng gēn wǒmen shìpín liáotiān er, gàosù wǒmen nǐ zài Zhōngguó de yīqiè.” Wǒ dāyìng le. Lín zǒu qián, tāmen gěi wǒ mǎi le hǎo duō dōngxī, duī dé bǎ wǒ de xiāngzi lǐ sāi mǎn.
Bàba kāichē bǎ wǒ sòng dào jīchǎng. Líbíe shí, tā yuǎn yuǎn wàng zhe wǒ bù tíng de huī shǒu, māmā yě zài cā yǎnlèi. Kàn dào fùmǔ liàn liàn bù shě de yàngzi, wǒ de yǎnlèi yě yīxiàzi liú le chūlái.
Dào Zhōngguó yǐhòu, fùmǔ zǒng shì zhǔfù wǒ yào zhùyì shēntǐ, zhùyì ānquán, nǔlì de xuéxí, yúkuài de shēnghuó.
Wèi le biǎodá wǒ duì tāmen de ài hé xiǎngniàn, yě wèi le ràng tāmen fàngxīn, wǒ yě chángcháng gēn tāmen shuō wǒ zài Zhōngguó yù dào de yǒuqù de rén hé shì, yǒushí dòu dé tāmen hāhā dà xiào.
Tiếng Việt
Khi xa nhà
Từ lâu tôi đã hy vọng có cơ hội đến Trung Quốc học tiếng Hán, bây giờ nguyện vọng đó cuối cùng cũng đã trở thành hiện thực, trong lòng tôi vui mừng không thể diễn tả được.
Từ mùa hè năm ngoái, tôi đã bận rộn liên hệ với trường học, làm đủ các thủ tục; nhưng tất cả những việc này tôi đều làm mà giấu bố mẹ. Tôi là con gái duy nhất, nếu nói chuyện này cho bố mẹ biết, họ phần lớn sẽ không đồng ý. Vì vậy, tôi chỉ bàn với bạn bè và giáo viên dạy tiếng Hán của tôi, sau khi đã hoàn tất mọi thủ tục mới nói cho họ biết. Khi họ nghe xong, quả nhiên là không mấy vui vẻ. Bố tôi nói: “Công việc hiện tại của con chẳng phải rất tốt sao?” Mẹ tôi nói: “Con không định kết hôn à?”
Nói thật, tôi vẫn chưa nghĩ ra sẽ làm gì trong tương lai. Nhưng hiện tại, tôi chỉ muốn học tiếng Hán và muốn đến Trung Quốc — đất nước vừa cổ kính vừa trẻ trung này để xem thử. Tôi nói với bố mẹ: “Con đã lớn rồi, giống như một chú chim nhỏ, nên tự mình bay thôi. Con muốn sống tự lập, tự do tự tại trải nghiệm cuộc sống ở nước ngoài một năm, sau đó sẽ cân nhắc kế hoạch tương lai.” Bố mẹ biết tính cách của tôi, chuyện tôi đã quyết định thì sẽ không thay đổi, hơn nữa họ cũng cho rằng suy nghĩ của tôi là đúng, nên đành phải đồng ý.
Mẹ dặn tôi sau khi đến Trung Quốc, mỗi tuần phải gọi điện cho bà một lần. Bố nói: “Tốt nhất là thường xuyên trò chuyện video với chúng tôi, kể cho chúng tôi nghe mọi chuyện ở Trung Quốc.” Tôi đã đồng ý. Trước khi đi, họ mua cho tôi rất nhiều đồ đạc, chất đầy trong vali của tôi.
Bố lái xe đưa tôi đến sân bay. Lúc chia tay, ông đứng từ xa vẫy tay không ngừng, mẹ thì lau nước mắt. Nhìn thấy dáng vẻ bịn rịn không nỡ rời xa của bố mẹ, nước mắt tôi cũng bất giác rơi xuống.
Sau khi đến Trung Quốc, bố mẹ luôn nhắc nhở tôi phải chú ý sức khỏe, đảm bảo an toàn, chăm chỉ học tập và sống vui vẻ.
Để bày tỏ tình yêu và nỗi nhớ với bố mẹ, cũng để họ yên tâm, tôi thường kể cho họ nghe những câu chuyện thú vị và những người tôi gặp ở Trung Quốc, thỉnh thoảng còn khiến họ bật cười vui vẻ.
Xa nhà không chỉ là hành trình khám phá thế giới mà còn là hành trình khám phá chính bản thân mình. Những trải nghiệm khi sống xa quê hương giúp chúng ta trưởng thành, mạnh mẽ và trân trọng hơn giá trị của gia đình, tình thân.
Qua bài khóa 《离家的时候》, người học không chỉ hiểu rõ nội dung câu chuyện về xa nhà – trưởng thành – tình cảm gia đình, mà còn ôn lại được cách dùng các điểm ngữ pháp quan trọng trong văn cảnh thực tế như 终于、果然、只好 để diễn tả kết quả và sự bất đắc dĩ; 一切 để khái quát sự việc; 如果、而 để nối và đối lập ý; cùng 对于 để nêu quan điểm, thái độ.
